Nữ Hoàng Kiếm Hiệp - Mỹ Châu
NSƯT Mỹ Châu ghi dấu trong lòng khán giả qua giọng thổ đặc biệt, nhiều vai diễn nổi tiếng và dây đờn mang tên mình - dây Mỹ Châu.
🎭 Nguyệt Cầm.VN – Nơi lưu giữ và lan tỏa tinh hoa nghệ thuật Cải lương Việt Nam.
Bài viết được biên soạn với tâm huyết gìn giữ văn hóa dân tộc. Nếu bạn yêu thích và muốn chia sẻ, xin vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏
Từ cô bé theo gánh hát đến cô đào trẻ của sân khấu Kim Chung
Mỹ Châu tên thật Nguyễn Thị Mỹ Châu, sinh năm 1950 tại Thủ Thừa, Long An. Cha mất sớm, mẹ bà một mình chăm lo cho bốn người con và cũng chính mẹ là người có ảnh hưởng lớn đến việc Mỹ Châu bước vào nghề hát. Thuở nhỏ bà từng thích tân nhạc, có lúc mong sau này trở thành bác sĩ, nhưng rồi khoảng 11 tuổi đã nghỉ học để theo đoàn Tiếng Chuông. Những ngày đầu trong gánh hát, Mỹ Châu chưa phải cô đào được giao vai chính mà làm nhiều công việc phía sau hậu trường, đồng thời quan sát những người đi trước để học cách ca, cách diễn và sinh hoạt của một đoàn cải lương.
Từ Tiếng Chuông, Mỹ Châu lần lượt có cơ hội đi qua nhiều đoàn hát và dần được giao vai. Đến giữa thập niên 1960, bà bắt đầu được chú ý rõ hơn, trong đó có vai Thùy Dương trong Hai lần thu hẹn trên sân khấu Thủ Đô. Năm 1965, Mỹ Châu về Kim Chung, một đại bang cải lương quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ, và đây cũng là giai đoạn quan trọng đưa tên tuổi bà đến với đông đảo khán giả. Dưới sự dìu dắt của nghệ sĩ Minh Cảnh, Mỹ Châu thành công với vai Mai Thảo trong Trinh nữ lầu xanh, từ đó dần xác lập vị trí của một cô đào trẻ có giọng ca khác biệt.
Trinh nữ lầu xanh cũng cho thấy khá rõ một đặc điểm theo Mỹ Châu trong nhiều năm sau đó: bà hợp với những nhân vật có đời sống tình cảm nặng, bên ngoài có thể cứng cỏi nhưng bên trong lại chất chứa nhiều tâm sự. Giọng thổ không tạo cảm giác trong trẻo như một số giọng đào khác, nhưng bù lại có độ trầm và sức nặng khi đi vào những câu vọng cổ buồn. Mỹ Châu không cố đưa giọng lên thật cao mà dần tìm cách ca thuận theo âm vực tự nhiên của mình, chú trọng chữ ca và tâm trạng của nhân vật. Đó cũng là nền tảng giúp bà đi từ những vai đào thương sang kiếm hiệp, hương xa rồi sau này tiếp tục chuyển sang những nhân vật xã hội và cách mạng mà không bị đóng khung trong một dạng vai duy nhất.
Một thời của những tuồng hương xa, kiếm hiệp
Trước năm 1975 là giai đoạn Mỹ Châu xuất hiện dày đặc trong những tuồng hương xa, kiếm hiệp vốn rất được khán giả miền Nam yêu thích. Bên cạnh Mai Thảo của Trinh nữ lầu xanh, bà còn được biết đến với A Khắc Thiên Kiều trong Người tình trên chiến trận, Lý Thiên Kim trong Kiếp nào có yêu nhau, Nữ chúa Tọa Mã Sơn trong Khi rừng mới sang thu cùng nhiều nhân vật khác. Riêng năm 1967, bà được trao Huy chương vàng triển vọng giải Thanh Tâm và cũng trong thời gian này tham gia bản thu Khi rừng mới sang thu. Khi ấy Mỹ Châu mới 17 tuổi nhưng đã trở thành một trong những cô đào trẻ được chú ý của sân khấu cải lương.
Dòng tuồng kiếm hiệp cũng đặc biệt phù hợp với ngoại hình và phong thái của Mỹ Châu. Gương mặt có nét lạnh, ánh mắt sắc và lối diễn tương đối điềm tĩnh giúp bà thể hiện những nhân vật nữ mạnh mẽ mà không cần quá nhiều động tác phô trương. Vì vậy, bên cạnh giọng ca, hình ảnh Mỹ Châu trong những bộ võ phục, vào vai nữ chúa, nữ hiệp hay những người phụ nữ có cá tính mạnh trở nên quen thuộc với người xem. Danh xưng Nữ hoàng kiếm hiệp về sau cũng gắn với Mỹ Châu từ chính giai đoạn bà xuất hiện nhiều trong dạng tuồng này.
Một phần quan trọng khác trong sự nghiệp Mỹ Châu nằm ở băng đĩa. Những vở như Sở Vân cứu giá, Kiếp nào có yêu nhau, Kiếm sĩ dơi, Gió giao mùa, Bình rượu nhiệm mầu, Tiêu Anh Phụng, Khi rừng mới sang thu, Lan Huệ sầu ai có sự tham gia của bà đã được thu thanh và lưu truyền đến nhiều thế hệ khán giả. Khác với sân khấu trực tiếp chỉ tồn tại trong một đêm diễn, băng đĩa giúp người nghe có thể nghe đi nghe lại một câu vọng cổ, một lớp tuồng và nhớ cách ca của từng nghệ sĩ. Chính nhờ lượng bản thu khá phong phú này mà ngày nay khi tìm lại giọng Mỹ Châu thời trẻ, người nghe vẫn có thể nhận ra khá rõ sự thay đổi trong cách ca, cách xử lý nhân vật của bà qua từng giai đoạn.

Minh Phụng – Mỹ Châu, một liên danh được khán giả nhớ lâu
Trong số những kép chánh từng đứng bên Mỹ Châu, Minh Phụng là một cái tên đặc biệt. Khi hai người bắt đầu kết hợp, Mỹ Châu đã có vị trí nhất định trên sân khấu, còn Minh Phụng đang trên đường tạo dựng tên tuổi. Theo những tư liệu về cặp nghệ sĩ này, Mỹ Châu không chỉ diễn chung mà còn hỗ trợ người bạn diễn trẻ, chia sẻ kinh nghiệm và giới thiệu Minh Phụng đi thu đĩa. Một trong những bản thu đánh dấu sự kết hợp của họ là Em có buồn không?, với phần tân nhạc của Thu Hồ và phần vọng cổ của Viễn Châu – Minh Lang.
Sự kết hợp ấy sau đó không dừng ở một vài bản thu mà phát triển thành liên danh Minh Phụng – Mỹ Châu. Hai người diễn chung trong *Bình rượu nhiệm màu*, rồi tiếp tục xuất hiện trong Kiếm sĩ dơi, Kiếp nào có yêu nhau, Tâm sự loài chim biển, Băng Tuyền nữ chúa và nhiều tuồng thu âm như Phụng Kiều – Lý Đáng, Tô Đắc Kỷ, Ngọc thủy chung, Tiết Giao đoạt ngọc. Trong một thời kỳ mà tên của cặp đào – kép có thể ảnh hưởng khá lớn đến sức hút của một vở diễn, Minh Phụng – Mỹ Châu trở thành một trong những liên danh được khán giả nhớ đến.
Cái hay khi Minh Phụng đứng cùng Mỹ Châu nằm nhiều ở sự khác biệt giữa hai giọng ca. Giọng Minh Phụng sáng, khỏe và có độ vang, trong khi Mỹ Châu lại trầm và nặng hơn, vì vậy khi đối đáp trong những lớp tình cảm, hai giọng không lẫn vào nhau mà bổ sung cho nhau. Trên sân khấu, họ cũng hợp với những câu chuyện có màu sắc lãng mạn, kiếm hiệp và những mối tình nhiều trắc trở vốn rất phổ biến trong cải lương thời ấy. Chính sự kết hợp từ sân khấu đến đĩa hát khiến tên Minh Phụng – Mỹ Châu không chỉ gắn với một vở cụ thể mà trở thành một liên danh quen thuộc trong ký ức của một bộ phận khán giả cải lương.
Điều đáng chú ý là Mỹ Châu không chỉ có một bạn diễn cố định. Trong suốt sự nghiệp, bà từng đứng chung sân khấu với Minh Cảnh, Thành Được, Minh Phụng, Minh Vương, Thanh Tuấn cùng nhiều nghệ sĩ khác, và mỗi sự kết hợp lại cho thấy một cách xử lý khác của người ca. Với Minh Cảnh là giai đoạn đầu khi bà còn là cô đào trẻ được đàn anh dìu dắt; với Minh Phụng là một liên danh nổi bật của thời kỳ hương xa, kiếm hiệp; còn sau năm 1975, khi đứng cùng Thanh Tuấn trong những vở mới, giọng ca Mỹ Châu lại dẫn đến một câu chuyện khác liên quan trực tiếp đến âm nhạc cải lương. Đó chính là sự ra đời của kiểu dây đờn về sau mang tên bà.
Dây Mỹ Châu – khi người đờn phải tìm tiếng đàn cho một giọng ca
Giọng Mỹ Châu có âm vực thấp hơn nhiều giọng đào thông thường, vì vậy chuyện chọn dây đàn phù hợp với bà không đơn giản chỉ là người ca bước ra rồi nhạc công đờn theo một cách cố định. Một số người yêu cổ nhạc thường gọi giọng bà ở khoảng lỡ ba, lỡ tư, nhưng bản thân Mỹ Châu cũng không phải suốt sự nghiệp chỉ ca duy nhất trên một kiểu dây. Tùy bạn diễn, nhân vật và từng giai đoạn, người đờn có thể phải điều chỉnh để tiếng đàn vừa nâng được giọng nữ trầm của Mỹ Châu, vừa không gây khó khăn khi bà ca chung với một giọng nam. Chính đặc điểm này cho thấy cái gọi là dây Mỹ Châu cần được hiểu trong bối cảnh cụ thể hơn là đơn giản cho rằng bà có một loại dây riêng và lúc nào cũng ca trên đó.
Câu chuyện được nhắc lại nhiều xảy ra khoảng năm 1976–1977, khi Mỹ Châu cộng tác với Đoàn cải lương Sài Gòn 2 và tập vở Tìm lại cuộc đời. Trong vở, bà đảm nhận vai Lan và diễn cùng Thanh Tuấn. Vì muốn giữ giọng cho ngày phúc khảo, Mỹ Châu đề nghị nhạc sĩ Hoàng Thành, lúc ấy là trưởng ban nhạc của đoàn, hạ dây đàn xuống cho phù hợp. Khó khăn nằm ở chỗ khi hai nghệ sĩ ca chung, nếu cứ phải chỉnh dây lên xuống giữa giọng Mỹ Châu và Thanh Tuấn thì rất bất tiện, vì vậy Hoàng Thành tìm cách xử lý để cây đàn có thể đáp ứng được cả hai giọng.
Theo lời kể được ghi lại, nhạc sĩ Hoàng Thành sử dụng một thanh gỗ nhỏ chặn dây đàn để chuyển cách xử lý từ hò đô sang hò la mà không phải liên tục chỉnh lại dây. Khi phúc khảo, kiểu đờn này hòa với chất giọng trầm của Mỹ Châu và phù hợp với tâm trạng nhân vật Lan nên được đạo diễn Huỳnh Nga yêu cầu tiếp tục sử dụng. Từ đó, cách gọi dây Mỹ Châu dần xuất hiện trong giới cổ nhạc. Như vậy, dây Mỹ Châu không phải do bản thân bà ngồi nghiên cứu và sáng tạo ra một hệ thống dây mới, mà hình thành từ sự phối hợp giữa đặc điểm giọng ca của bà với kinh nghiệm của người nhạc công trong một hoàn cảnh sân khấu cụ thể.
Chi tiết này cũng nói lên một điều khá hay của cải lương: người đờn không đứng tách biệt với người ca. Tiếng đàn phải biết theo hơi, theo giọng và đôi khi theo cả tâm trạng của nhân vật trên sân khấu. Trường hợp Mỹ Châu đặc biệt ở chỗ cách xử lý được tìm ra để phục vụ chất giọng của bà sau đó lại được giới trong nghề nhớ và gọi bằng tên người nghệ sĩ. Vì vậy, khi nói về dấu ấn của Mỹ Châu trong cải lương, dây Mỹ Châu đáng được nhắc đến không phải như một danh hiệu để ca ngợi, mà như một câu chuyện nghề cho thấy chất giọng của bà khác biệt đến mức người nhạc công phải tìm một cách xử lý riêng để tiếng đàn và tiếng ca gặp được nhau.

Sau năm 1975, Mỹ Châu bước sang một dạng vai khác
Nếu trước năm 1975 khán giả thường gặp Mỹ Châu trong những câu chuyện hương xa, kiếm hiệp thì giai đoạn sau đó cho thấy một mặt khác trong diễn xuất của bà. Mỹ Châu cộng tác với các đoàn Sài Gòn 1, Sài Gòn 2, Trúc Giang, Thanh Nga và Văn công Thành phố, tham gia nhiều vở có đề tài xã hội, lịch sử và cách mạng. Những bộ võ phục và nhân vật nữ hiệp dần nhường chỗ cho những người phụ nữ gần với đời sống hơn, có số phận, hoàn cảnh và những giằng co nội tâm khác trước. Trong giai đoạn này, ba vai thường được nhắc đến là Lan trong Tìm lại cuộc đời, Hiếu trong Khách sạn Hào Hoa và Nàng Hai trong Nàng Hai Bến Nghé.
Vai Lan trong Tìm lại cuộc đời đặc biệt đáng nhớ vì vừa là một vai diễn tiêu biểu, vừa gắn với câu chuyện hình thành dây Mỹ Châu. Với Khách sạn Hào Hoa, bà đảm nhận vai Hiếu, một nhân vật thuộc dạng hoàn toàn khác những nữ chúa hay nữ hiệp từng tạo tên tuổi cho bà trước đó. Còn trong Nàng Hai Bến Nghé của tác giả Ngọc Linh, Mỹ Châu tiếp tục đi vào dạng nhân vật gắn với bối cảnh lịch sử và quê hương Nam Bộ. Ba nhân vật Lan, Hiếu và Nàng Hai vì thế thường được nhắc khi nhìn lại giai đoạn sau năm 1975 của Mỹ Châu, bởi chúng đánh dấu sự chuyển đổi khá rõ từ một cô đào nổi tiếng với tuồng màu sắc sang những vai đòi hỏi cách diễn gần với đời sống và tâm lý hơn.
Bên cạnh đó, danh mục vai diễn của Mỹ Châu còn trải rộng qua nhiều dạng tuồng khác nhau. Bà từng vào vai Công chúa Ngọc Hân trong Tâm sự Ngọc Hân, Nguyễn Thị Tồn trong Muôn dặm vì chồng, Mộng Cầm trong Hàn Mặc Tử, Lý Thần Phi trong Bao Công tra án Quách Hòe và xuất hiện trong nhiều vở như Hoa Mộc Lan, Thái hậu Dương Vân Nga, Bên cầu dệt lụa, Tiếng trống Mê Linh, Vòng cưới anh trao, Hai phương trời thương nhớ. Về những năm cuối hoạt động sân khấu trong nước, bà còn có Võ Tắc Thiên và Tơ vương sầu ly biệt. Nhìn vào danh sách ấy có thể thấy con đường của Mỹ Châu không dừng ở một thời kiếm hiệp mà kéo dài qua nhiều giai đoạn thay đổi của chính sân khấu cải lương.
Mỹ Châu trong tân cổ và nghệ thuật ca diễn
Ngoài những vở tuồng dài, Mỹ Châu còn có một lượng bản vọng cổ, tân cổ giao duyên được khán giả biết đến. Chất giọng trầm của bà khá hợp với những bài mang tâm sự, nhất là khi chuyển từ phần tân nhạc sang vọng cổ, nơi cách xuống chữ và kéo hơi tạo ra màu sắc khác hẳn giọng nữ cao. Sau năm 1975, bà tiếp tục được nhắc đến qua những bài vọng cổ như Trở lại Mỹ Tho, Bông so đũa, Trái tim thành phố, Đôi mắt dòng sông. Nếu trên sân khấu khán giả còn nhìn thấy ánh mắt, động tác và hình thể của nhân vật, thì qua đĩa hát gần như toàn bộ sức nặng lại đặt vào tiếng ca, vì vậy những bản thu cũng là nơi chất giọng Mỹ Châu bộc lộ rõ nhất.
Một điểm thường được nhắc khi nói về Mỹ Châu là khả năng phối hợp với bạn diễn. Bà từng được gọi vui là nhũ mẫu của những anh kép trẻ bởi có xu hướng hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm và biết cách giữ một lớp diễn để người đứng cùng mình có khoảng thể hiện. Câu chuyện bà giới thiệu Minh Phụng đi thu đĩa là một ví dụ khá rõ, trong khi trước đó chính Mỹ Châu cũng từng nhận được sự nâng đỡ của Minh Cảnh khi mới bước lên vị trí đào chánh. Nhìn theo cách này, những liên danh sân khấu của Mỹ Châu không chỉ là chuyện ghép một giọng đào với một giọng kép cho đẹp, mà còn phản ánh cách những nghệ sĩ cùng thời hỗ trợ nhau để một lớp ca, một vở tuồng hay một bản thu đạt được sự ăn ý cần thiết.

Đời riêng phía sau sân khấu
So với sự nghiệp kéo dài nhiều thập niên, đời tư của Mỹ Châu có thể kể khá gọn. Bà lập gia đình với nghệ sĩ Đức Minh năm 1990 khi đã khoảng 40 tuổi, hai người không có con và sống với nhau hơn hai mươi năm. Sau năm 2002, Mỹ Châu sang Hoa Kỳ đoàn tụ với gia đình và định cư tại bang Georgia, từ đó ít hoạt động sân khấu hơn. Nghệ sĩ Đức Minh qua đời năm 2014, còn Mỹ Châu chọn cuộc sống tương đối kín tiếng, thỉnh thoảng mới xuất hiện hoặc chia sẻ với khán giả về những kỷ niệm nghề hát.
Một giọng ca đi qua nhiều thời kỳ của cải lương
Qua nhiều thập niên, Mỹ Châu vẫn được khán giả nhớ đến bởi chất giọng thổ trầm, cách ca riêng và những vai diễn để lại dấu ấn. Những bản thu, vở tuồng cũ cùng câu chuyện về dây Mỹ Châu đến nay vẫn được người yêu cải lương tìm nghe và nhắc lại. Đó cũng là dấu ấn mà Mỹ Châu để lại sau một đời gắn bó với sân khấu.
Phản ứng của bạn là gì?
