Tứ Tử Đăng Khoa - Vở cải lương Hồ quảng của mùa xuân

Vở còn được biết đến với những tên gọi Tứ tử đậu tân khoa, Tứ trạng đăng khoa hay Tứ trạng khai xuân. Trong đó có một vụ án oan treo lơ lửng suốt hai mươi năm, bốn mối lương duyên, bốn người con cùng đỗ Trạng nguyên, và tiếng cười đan xen nước mắt.

Tứ Tử Đăng Khoa - Vở cải lương Hồ quảng của mùa xuân

Có những vở tuồng cổ đã đi qua mấy mươi mùa xuân mà mỗi lần màn nhung kéo lên, khán giả vẫn ngồi chật rạp. Tứ tử đăng khoa là một vở như thế. Vở còn được biết đến với những tên gọi Tứ tử đậu tân khoa, Tứ trạng đăng khoa hay Tứ trạng khai xuân. Trong đó có một vụ án oan treo lơ lửng suốt hai mươi năm, bốn mối lương duyên, bốn người con cùng đỗ Trạng nguyên, và nhiều tiếng cười đan xen nước mắt. Từ bản thu hình kinh điển của NSƯT Vũ Linh đến lớp nghệ sĩ trẻ hôm nay, vở tuồng vẫn giữ được sức hút riêng trên sân khấu Nam Bộ.

Khởi nguồn từ chiếc nôi Huỳnh Long

Tứ tử đăng khoa là kịch bản cải lương tuồng cổ do nghệ sĩ Bạch Mai và Bạch Long sáng tác, gắn liền với bảng hiệu Đoàn cải lương tuồng cổ Huỳnh Long, một đơn vị gắn bó lâu năm với tuồng cổ. Với vốn am hiểu Hán – Nôm và kinh nghiệm nhiều năm đứng trên sân khấu, các tác giả đã dệt nên những lớp lời văn vừa đúng khuôn phép tuồng cổ Hồ Quảng, vừa đủ mềm mại để đi vào lòng khán giả bình dân.

Vở tuồng là sự giao thoa giữa ba dòng chảy: tuồng cổ truyền thống, chuyện phá án truyền kỳ và hỷ kịch ngày xuân. Đoàn Huỳnh Long nhiều năm đưa vở lên sân khấu lớn và vào các mùa Lễ hội Kỳ yên. Bởi lẽ câu chuyện khoa bảng hanh thông, gia đình sum họp và công lý được giải bày vốn mang sẵn ý nghĩa cầu chúc, nên Tứ tử đăng khoa từ lâu đã trở thành một “vở Tết” quen thuộc của khán giả mộ điệu.

Hai mươi năm một vụ kỳ án

Câu chuyện xoay quanh Hoàng Công Đồng, một tội nhân mang án giết người đã hai mươi năm nằm trong ngục tối. Mỗi độ xuân về, triều đình lại giải ông ra công đường. Bao đời quan xử án nối nhau ngồi ghế phán quan, vậy mà vụ án vẫn bế tắc, bởi người tù thản nhiên nhận tội nhưng nhất quyết không hé môi về nguyên cớ.

Qua từng lời thẩm vấn, quá khứ của ông dần hé mở. Hoàng Công Đồng vốn là một thư sinh nghèo hiếu học, tạm xa người vợ tào khang là Xuân Mai để rời quê lên kinh ứng thí. Không phải kẻ trăng hoa, nhưng dòng đời đẩy đưa khiến ông lần lượt kết duyên cùng ba người phụ nữ khác hiền thục, hết lòng vì chồng. Rồi một biến cố ập đến, ông biệt tích, bỏ lại bốn mái nhà nhỏ ở bốn phương trời.

Hai mươi năm sau, bốn người con trai của bốn người vợ cùng lều chõng lên kinh và cùng đỗ Trạng nguyên trong một khoa thi, làm nên cảnh “tứ tử đăng khoa” hiếm có. Nhà vua giao cho bốn vị tân khoa xét lại vụ án cũ mà không ai trong họ biết kẻ đang quỳ dưới công đường chính là cha ruột của mình. Từng nút thắt gia đình được tháo gỡ, sự thật sau hai mươi năm được phơi bày, và vở khép lại bằng cảnh đoàn viên trọn vẹn.

Nét đặc sắc của một vở tuồng xuân

Sức hấp dẫn trước hết nằm ở cách dựng chuyện. Vở đi song song hai mạch thời gian: hiện tại là chốn công đường nghiêm trang, quá khứ là những cuộc gặp gỡ định mệnh giữa Hoàng Công Đồng và từng người vợ. Mỗi lần lời khai đưa người xem ngược về dĩ vãng là thêm một mảnh ghép được lật mở, khiến sự tò mò cứ thế được giữ cho đến màn cuối.

Nét đặc sắc thứ hai là sự hòa quyện giữa bi và hỷ. Những cảnh ngục tù lạnh lẽo, cảnh cha con đối diện mà không nhận ra nhau mang đậm màu bi kịch. Xen giữa lại là những tình huống dở khóc dở cười của một chàng thư sinh hiền lành bỗng dưng vướng vào bốn mối duyên kỳ ngộ. Nhờ vậy, dù câu chuyện trải dài qua nhiều lớp, vở vẫn giữ được nhịp điệu nhẹ nhàng, tươi vui của một vở tuồng ngày xuân.

Nét đặc sắc thứ ba thuộc về nghệ thuật ca diễn. Vở dày đặc những lớp ca Hồ Quảng, những đường quạt, bộ điệu tuồng cổ cùng cảnh công đường với xiêm y rực rỡ. Người kép chánh phải có giọng ca đủ hơi, đường nét vũ đạo vững vàng, và nhất là khả năng chuyển từ lối diễn bi sang hài mà không gãy mạch cảm xúc. Bao thế hệ nghệ sĩ vì thế đều xem vai Hoàng Công Đồng là một thước đo tay nghề.

Những tâm hồn trong vở tuồng

Hoàng Công Đồng là một nhân vật nhiều tầng lớp. Thuở thanh xuân, ông là chàng thư sinh nho nhã, đôn hậu, mang chí hướng sôi kinh nấu sử. Những mối duyên đến với ông phần nhiều vì ơn nghĩa và hoàn cảnh, chứ chẳng phải do lòng ham mê sắc dục. Đến khi tóc đã đốm bạc sau song sắt, ông lại là một người tù cam chịu, lặng lẽ gánh án oan để giữ yên cho những người mình thương. Sự im lặng ấy chính là nút thắt của toàn vở, và cũng là nơi nhân cách của nhân vật được soi rõ nhất.

Bốn người vợ mỗi người một dáng vẻ, nhưng cùng chung một tấm lòng sắt son. Suốt hai mươi năm vắng bóng chồng, họ âm thầm nuôi con, dạy con đèn sách, để rồi chính bàn tay họ đã vun nên bốn vị Trạng nguyên. Hình ảnh người phụ nữ tảo tần, thủy chung trong vở mang đậm nét đẹp quen thuộc của người mẹ Việt.

Bốn người con đứng trước một thử thách khó xử: vừa là quan tòa phải giữ phép nước, vừa dần nhận ra kẻ tù trước mặt là người cha mình mong đợi bấy lâu. Khoảnh khắc chữ hiếu và lẽ công bằng đặt lên cùng một bàn cân là lúc vở chạm sâu nhất vào cảm xúc người xem.

NSƯT Vũ Linh và phiên bản kinh điển

Với nhiều thế hệ khán giả, nhắc đến Tứ tử đăng khoa là nhớ ngay đến bản thu hình có cố NSƯT Vũ Linh trong vai Hoàng Công Đồng. Bản đĩa ấy từng theo chân khán giả về khắp các nẻo thành thị, thôn quê, và đến nay vẫn được người mộ điệu tìm xem lại trên các nền tảng trực tuyến.

“Ông hoàng cải lương” đã mang vào vai diễn tất cả thế mạnh của một kép đẹp, kép mùi. Ở phần thời trẻ, ông phác họa một thư sinh tuấn tú, nho nhã mà kiên định. Sang phần trung niên, giọng ca chùng xuống, ánh mắt trĩu nặng nỗi niềm của kẻ mang án oan mà không thể thanh minh. Điều đáng quý là Vũ Linh vẫn giữ được thăng bằng giữa bi và hài, để những tình huống dí dỏm không làm nhạt đi chiều sâu của nhân vật.

Thành công của bản này còn đến từ một dàn đào kép thuộc thế hệ vàng của cải lương Nam Bộ. Bốn vai vợ do Phượng Mai, NSƯT Thanh Thanh Tâm, NSƯT Thoại Mỹ và Thanh Hằng đảm nhận, mỗi người mang một sắc màu riêng. Phượng Mai sắc nét trong bộ điệu tuồng cổ. Thanh Thanh Tâm đằm thắm, chuẩn mực với lối diễn đào mùi. Thoại Mỹ sinh động, sắc sảo. Thanh Hằng góp vào đó chất giọng nội lực cùng nét hài hước đầy năng lượng. Bên cạnh họ là Chí Linh, Ngân Tuấn, Trọng Nghĩa trong các vai quan xử án và những người con đỗ đạt. Đoạn Hồ Quảng giữa Vũ Linh và Chí Linh đến nay vẫn được cắt ra, lan truyền trên mạng xã hội như một trích đoạn tiêu biểu.

Phẩm chất đồng đều của dàn diễn, cộng với ngôn ngữ thu hình cho phép ghi lại từng ánh mắt, từng lần nhả chữ, khiến bản diễn này thường được xem là chuẩn mực mà các thế hệ sau luôn nhìn vào để so sánh.

Những phiên bản khác trên sân khấu hôm nay

Sau Vũ Linh, NSƯT Vũ Luân là một trong những gương mặt gắn bó với vai diễn này. Nếu bản Vũ Linh được lưu giữ qua ống kính máy quay, thì Vũ Luân chủ yếu đến với vai diễn dưới ánh đèn sân khấu trực tiếp. Ở đó, người nghệ sĩ phải giữ năng lượng suốt cả đêm diễn, động tác phải rõ nét hơn và cảm xúc phải chạm được tới từng hàng ghế cuối khán phòng. Thuở đầu, giọng ca và điệu bộ của anh còn đậm bóng dáng Vũ Linh. Qua nhiều lần tái diễn, Vũ Luân dần tìm được giọng riêng: trẻ trung hơn, tiết tấu nhanh hơn, vũ đạo linh hoạt và xử lý tình huống hài duyên dáng. Sự tung hứng với NSƯT Tú Sương, người bạn diễn cùng xuất thân từ lò Bạch Long, đã góp phần thổi thêm luồng sinh khí mới cho vở tuồng.

Tết Bính Ngọ 2026, câu chuyện quen thuộc ấy được khoác một diện mạo mới. Vở được chuyển thể sang kịch nói với tên Tứ trạng đăng khoa, công diễn tại Sân khấu của nghệ sĩ Minh Nhí. Bản kịch giữ nguyên cốt truyện vụ án hai mươi năm và bốn mối lương duyên, nhưng có một điểm sáng tạo thú vị: bốn diễn viên đóng bốn người con đồng thời hóa thân luôn thành Hoàng Công Đồng thuở trẻ. Màu sắc dân gian, những lớp tuồng cổ và xiêm y rực rỡ vẫn được giữ lại, khiến vở cùng lúc chinh phục cả khán giả kịch lẫn khán giả cải lương.

Sức sống qua nhiều thế hệ khán giả

Tứ tử đăng khoa là một trong những vở tuồng giữ được tình cảm khán giả lâu bền. Bản Vũ Linh ra đời đúng thời băng đĩa cải lương cực thịnh, theo chân người xem về từng mái nhà. Đến hôm nay, vở vẫn được đăng tải lại trên YouTube, các trang nghe nhạc, và được cắt thành những đoạn ngắn lan truyền trên TikTok, như một cách để lớp khán giả trẻ lần đầu chạm đến tuồng cổ.

Trên sân khấu, việc Đoàn Huỳnh Long nhiều năm liền đưa vở vào chương trình diễn Tết và diễn Kỳ yên đã là lời khẳng định rõ ràng nhất về sức hút của nó. Bởi một vở chỉ có thể sống lâu trên sân khấu khi khán giả còn mua vé. Việc vở được chuyển thể sang kịch nói và công diễn nhiều suất càng cho thấy câu chuyện về bốn vị Trạng nguyên vẫn còn nguyên sức cuốn hút với người xem hôm nay.

Giá trị nghệ thuật và nhân văn

Trước hết, Tứ tử đăng khoa mang giá trị nhân văn sâu sắc. Vở ca ngợi chữ hiếu, nghĩa tào khang, đức hy sinh của người mẹ và niềm tin rằng công lý sớm muộn rồi cũng được làm sáng. Những giá trị ấy gần gũi với đời sống tinh thần của người Nam Bộ, nên dù khoác áo tuồng cổ, vở vẫn dễ dàng chạm đến trái tim người xem. Bên cạnh đó là giá trị nghề nghiệp. Vở hội đủ ca Hồ Quảng, bộ điệu, múa quạt, cả lối diễn bi lẫn hài, nên như một giáo trình sống, nơi người diễn viên trẻ rèn giũa cả giọng ca lẫn nội tâm.

Sau cùng, vở tuồng là sợi dây nối các thế hệ nghệ sĩ. Vai Hoàng Công Đồng đã đi qua nhiều lớp nghệ sĩ, mỗi lớp giữ lấy cái hồn cốt và gửi vào đó dấu ấn của riêng mình. Điều cần lưu tâm là khi làm mới, những lớp lời văn và bài bản của kịch bản gốc cần được nâng niu, tránh để mảng miếng hài lấn át mạch tình cảm vốn là linh hồn của vở.

Tứ tử đăng khoa là một di sản quý của sân khấu tuồng cổ Nam Bộ, nơi kịch tính, đạo lý gia đình và tiếng cười ngày xuân hòa quyện vào nhau. Qua NSƯT Vũ Linh, vở đã có một phiên bản chuẩn mực về ca diễn và tâm lý nhân vật. Hơn ba thập kỷ trôi qua, màn nhung vẫn kéo lên và khán giả vẫn tìm đến, đó là minh chứng giản dị mà thuyết phục nhất cho sức sống của vở tuồng.

Phản ứng của bạn là gì?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow